KINH ĐẠI NIẾT BÀN & TRUNG BỘ TOÁT YẾU BÀI 14 TVPS 22 8 2020

Nguồn: https://gizmondolive.com/

Xem thêm bài viết khác: https://gizmondolive.com/category/bat-dong-san

3 responses to KINH ĐẠI NIẾT BÀN & TRUNG BỘ TOÁT YẾU BÀI 14 TVPS 22 8 2020

  1. Bài 9. Chính tri kiến kinh/ Sammāditthi Sutta/ Right view

    A. Tuệ tri thiện bất thiện:

    1. Chính tri kiến thành tựu

    Khi vị thánh đệ tử

    Tuệ tri thiện, bất thiện

    Cùng gốc rễ của chúng.

    2. Bất thiện gồm 10 điều:

    Sát sinh và trộm cắp,

    Tà hạnh trong các dục,

    Nói dối và đâm thọc,

    Ác khẩu và thêu dệt,

    Tham, sân cùng tà kiến.

    Gốc rễ của bất thiện

    Là tham, sân và si.

    3. Thiện là bỏ 10 ác

    Và gốc rễ của thiện

    Là không tham sân si

    Khi tuệ tri như vậy

    Nhổ tận tham tùy miên,

    Và kiến, mạn tùy miên,

    Không còn chấp "Tôi là",

    Vô minh diệt, minh sinh.

    B. Tuệ tri thức ăn:

    1. Bốn loại thức ăn này:

    Đoàn, xúc, tư niệm, thức,

    Khiến dòng sống tiếp tục

    Để tái diễn khổ sầu.

    2. Thức ăn này do "ái",

    Diệt ái, hết thức ăn,

    Phương pháp đoạn diệt ái

    Là Thánh đạo Tám ngành.

    3. Tuệ tri thức ăn này

    Theo nguyên lý Bốn Diệu

    Đệ tử sạch tham ái,

    Diệt khổ ngay hiện tại.

    4. Nhổ tận tham tùy miên

    Và kiến, mạn tùy miên

    Không còn chấp "Tôi là"

    Vô minh diệt, minh sinh.

    C. Tuệ tri Khổ:

    Khổ là sinh, già, chết

    Sầu bi khổ não ưu

    Kèm theo thân năm uẩn

    Nguồn gốc đống khổ này

    Là "ái" khiến tái sinh

    Tìm hỷ lạc cùng khắp:

    Dục, hữu và phi hữu.

    Muốn giải thoát khổ này

    Hãy từ bỏ khát ái,

    Đoạn diệt không dư tàn.

    Phương pháp đoạn diệt Khổ

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    D. Tuệ tri Già chết:

    Hoặc tuệ tri Già chết

    Theo nguyên lý Bốn Diệu:

    Nỗi đau ê ẩm này

    Không có nếu không sinh,

    Muốn đoạn trừ Già chết

    Hãy đoạn trừ tái sinh,

    Con đường đoạn tận Sinh

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    E. Tuệ tri Sinh:

    Hoặc tuệ tri về Sinh

    Cùng tập khởi, đoạn diệt.

    Sinh bắt nguồn từ Hữu

    [Khuynh hướng muốn có mặt],

    Nếu muốn đoạn diệt Sinh

    Thì đừng ham có mặt,

    Con đường đoạn diệt Sinh

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    F. Tuệ tri Hữu:

    Hoặc tuệ tri về Hữu

    Tập khởi cùng đoạn diệt.

    Có ba loại hữu này:

    Dục, sắc và vô sắc.

    Hữu là do chấp thủ,

    Muốn có mặt ở đây.

    Con đường đoạn diệt Hữu

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    G. Tuệ tri Thủ:

    Hoặc tuệ tri về Thủ,

    Tập khởi cùng đoạn diệt.

    Có bốn chấp thủ này

    Dục thủ và kiến thủ,

    Giới thủ và ngã luận

    Nguồn gốc thủ là Ái

    Diệt Ái thì Thủ diệt

    Con đường đoạn diệt Thủ

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    H. Tuệ tri Ái:

    Hoặc tuệ tri về Ái

    Tập khởi cùng đoạn diệt.

    Ái gồm có sáu loại

    Yêu sắc, thanh, hương, vị,

    Xúc, và pháp vô hình.

    Nguồn gốc Ái là Thọ,

    Dứt Thọ thì Ái diệt.

    Con đường đoạn diệt Ái

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    I. Tuệ tri Thọ:

    Hoặc tuệ tri về Thọ

    Tập khởi cùng đoạn diệt.

    Có sáu loại Thọ này

    Do có sáu giác quan

    Nên nguồn gốc của Thọ

    Là căn, trần tiếp xúc.

    Dứt Xúc thì Thọ diệt,

    Con đường đoạn diệt Thọ

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    J. Tuệ tri Xúc:

    Hoặc tuệ tri về Xúc

    Tập khởi cùng đoạn diệt

    Có sáu loại Xúc này,

    Do có sáu giác quan,

    Nên nguồn gốc của Xúc

    Là mắt, tai, mũi, lưỡi,…

    Không giác quan, không Xúc.

    Con đường đoạn diệt Xúc

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    K. Tuệ tri Sáu nhập:

    Hoặc tuệ tri Sáu nhập

    Qua đó sáu đối tượng

    Đi vào trong tâm thức

    Còn gọi "sáu giác quan".

    Nguồn gốc của Sáu nhập

    Chính là Danh và Sắc:

    Diệt được cái nguồn gốc

    Thì Sáu Nhập không sinh.

    Con đường đoạn Sáu Nhập

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    L. Tuệ tri Danh sắc:

    Hoặc tuệ tri Danh sắc

    Sắc là thân vật lý,

    Phần tâm lý là Danh,

    Nguồn gốc nó là Thức.

    Diệt được cái nguồn gốc

    Thì Danh Sắc không sinh.

    Con đường đoạn Danh Sắc

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    M. Tuệ tri Thức:

    Hoặc tuệ tri về Thức

    Gồm sáu loại tất cả

    Cùng tập khởi, đoạn diệt,

    Nguồn gốc nó là Hành.

    Diệt được cái nguồn gốc

    Thì Thức sẽ không sinh.

    Con đường đoạn diệt Thức

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    N. Tuệ tri Hành:

    Hoặc tuệ tri về Hành

    Gồm ba: thân, ngữ, ý

    Cùng tập khởi, đoạn diệt

    Nguồn gốc là Vô minh

    Diệt được cái nguồn gốc

    Thì Hành sẽ không sinh

    Con đường đoạn diệt ấy

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    O. Tuệ tri vô minh:

    Hoặc tuệ tri Vô minh

    Cùng tập khởi, đoạn diệt

    Vô minh là không sáng

    Đối với bốn chân lý.

    Vô minh do Lậu hoặc

    Diệt được gốc của nó

    Thì Vô minh cũng diệt

    Con đường đoạn Vô minh

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    P. Tuệ tri Lậu hoặc:

    Hoặc tuệ tri Lậu hoặc

    Gồm dục, hữu, Vô minh

    Vô minh sinh ba hoặc

    Ba hoặc dưỡng Vô minh.

    Dứt sạch được Vô minh

    Thì không còn lậu hoặc.

    Con đường đoạn Lậu hoặc

    Là Tám ngành Thánh đạo.

    KẾT:

    Ai tuệ tri như vậy

    Là có chính tri kiến

    Có đức tin chân chính

    Thành tựu diệu pháp này.

    Bài 10. Niệm xứ kinh/ Satipaṭṭhāna Sutta/ The foundations of mindfullness.

    Có con đường độc nhất

    – Bốn cơ sở tưởng niệm –

    Khiến chúng sinh thanh tịnh

    Diệt sầu não khổ ưu,

    Thành tựu được chánh trí,

    Và chứng ngộ Niết bàn.

    Một, quán thân như thân,

    Hai, thọ như cảm thọ,

    Ba, quán tâm như tâm,

    Bốn, quán pháp như pháp.

    A. Quán thân:

    Quán thân mười bốn mục

    Thực hành vào mọi lúc

    Một, niệm hơi ra vào

    Dài ngắn đều ý thức.

    Hai, quán bốn uy nghi

    Lúc nằm, ngồi, đứng, đi.

    Ba, rõ biết thân hành

    Khi duỗi, co, cúi, ngước.

    Bốn, quán thân bất tịnh

    Tóc, lông, móng, răng, da.

    Năm, thân gồm bốn đại

    Chẳng có gì là "ta".

    Và đây chín giai đoạn

    Khi thân đã ra ma.

    Một là thây trương phình,

    Còn đâu vẻ đẹp xinh?

    Hai, côn trùng đục khoét,

    Không còn ra dáng hình.

    Ba, bộ xương dính thịt

    Với bốn đường liên kết.

    Bốn, còn máu và gân,

    Sâu kiến lại tranh phần.

    Năm là xương hết máu

    Nhưng còn dính liền gân.

    Sáu, bộ xương rời rã

    Rải rác khắp mộ phần.

    Bảy, xương màu vỏ ốc

    Theo gió bụi thời gian.

    Tám, một đống xương tàn.

    Trên đường về cát bụi,

    Tung bay giữa không gian,

    Đây là giai đoạn cuối.

    Quán sát thân thể này

    Bản chất là như vậy:

    Sinh ra rồi già chết

    Không thể nào khác hơn,

    Tỳ kheo sống chính niệm,

    Gột rửa hết tham ưu,

    Không nương tựa chấp trước

    Bất cứ gì trên đời.

    B. Quán thọ:

    Kế đến, quán cảm thọ,

    Là cảm giác thân, tâm

    Gồm ba loại: Khổ, vui,

    Và không vui không khổ.

    Tuệ tri từng cảm thọ

    Là nghe ngóng theo dõi

    Sinh, trú diệt của nó

    Chính niệm, gột tham ưu.

    C. Quán tâm:

    Có tham, tuệ tri "tham",

    Không tham, biết "không tham".

    Với sân, si, cũng vậy;

    Thâu nhiếp hay tán loạn;

    Quảng đại, không quảng đại;

    Hữu hạn hay vô thượng;

    Có định hay không định;

    Giải thoát, không giải thoát.

    Tuệ tri các tâm ấy

    Khi sinh khởi, diệt tận,

    Tỳ kheo sống chính niệm

    Để gột rửa tham ưu.

    D. Quán pháp:

    Quán pháp gồm năm mục

    Một, quán năm triền cái

    Tham, sân và ngủ gục,

    Trạo cử và hoài nghi.

    Hai, quán năm thủ uẩn

    Sắc, thọ, tưởng, hành, thức,

    Sinh khởi và đoạn diệt,

    Mỗi thứ cần biết rõ.

    Ba, quán sáu giác quan

    Cùng với sáu đối tượng:

    Tuệ tri kiết sử sinh

    Do trong ngoài tiếp xúc;

    Tuệ tri kiết sử diệt

    Tương lai sẽ không sinh.

    Tuệ tri các pháp ấy

    Khi sinh khởi, diệt tận,

    Tỳ kheo sống chính niệm

    Để gột rửa tham ưu.

    Bốn, quán bảy giác chi:

    Trước hết "Niệm" tuệ tri

    Chưa sinh, cần sinh khởi,

    Đã sinh, hãy viên thành.

    Trạch pháp, hỷ, tinh tấn,

    Khinh an, định và xả

    Sáu giác chi còn lại

    Cũng quán sát như trên.

    Tuệ tri các pháp ấy

    Khi sinh khởi, diệt tận,

    Tỳ kheo sống chính niệm

    Để gột rửa tham ưu.

    Năm, quán bốn thánh đế:

    Tuệ tri "Đây là Khổ,

    Đây là nguồn gốc Khổ,

    Đây là sự diệt Khổ,

    Đây là đường diệt Khổ."

    Tuệ tri các pháp ấy

    Khi sinh khởi, diệt tận,

    Tỳ kheo sống chính niệm

    Để gột rửa tham ưu.

    Không nương tựa chấp trước

    Bất cứ gì trên đời.

  2. Bài 6. Ước nguyện kinh/ Ākankheyya Sutta/ If a bhikkhu wish.

    1. Ðấng đạo sư nhắc nhủ

    Tỳ kheo sống phòng hộ

    Với Giới biệt giải thoát,

    Với chánh niệm, uy nghi,

    Và thấy được hiểm nguy

    Trong từng lỗi nhỏ nhặt,

    Bởi vì Giới dẫn đầu

    Trong tất cả thiện pháp.

    2. Nếu tỳ kheo ước nguyện:

    "Ðược pháp hữu yêu kính";

    "Ðược bốn vật cần dùng";

    Và "mong thí chủ mình

    Sẽ được quả báo lớn"

    Hãy viên mãn Giới luật,

    Thích sống nơi nhàn tịnh,

    Và siêng tu thiền định

    Ðể thành tựu tuệ quán.

    3. Nếu tỳ kheo ước nguyện:

    "Mong bà con dòng họ

    Lâm chung nghĩ đến mình

    Với tâm niệm hân hoan

    Sẽ được phước báo lớn."

    Nếu tỳ kheo ước nguyện:

    "Mong sợ hãi khổ vui,

    Không sợ hãi khiếp đảm"

    Hãy viên mãn Giới luật,

    Thích sống nơi nhàn tịnh

    Và siêng tu thiền định

    Ðể thành tựu tuệ quán.

    4. Nếu tỳ kheo ước nguyện:

    "Mong ta chứng bốn thiền,

    Ðược hiện tại lạc trú"

    "Mong ta chứng bốn Không,

    Thành tựu tịch tịnh trú".

    Hãy viên mãn Giới luật,

    Thích sống nơi nhàn tịnh

    Và siêng tu thiền định

    Ðể thành tựu tuệ quán.

    5. Nếu tỳ kheo ước nguyện:

    "Mong ta chứng Dự lưu,

    Diệt trừ ba kiết sử."

    "Mong ta chứng Nhất lai,

    Mỏng dần tham, sân, si."

    "Mong ta chứng Bất hoàn,

    Trừ năm "hạ kiết sử."

    Hãy viên mãn Giới luật,

    Thích sống nơi nhàn tịnh,

    Và siêng tu thiền định

    Ðể thành tựu tuệ quán.

    6. Nếu tỳ kheo ước nguyện:

    "Mong ta chứng thần thông,

    Biến hóa theo nhiều cách."

    "Mong ta chứng thiên nhĩ,

    Nghe đủ tiếng gần, xa."

    "Mong ta chứng tha tâm,

    Biết tâm niệm mọi người."

    "Mong ta chứng túc mạng,

    Biết các đời quá khứ."

    "Mong ta chứng thiên nhãn,

    Thấy sống chết chúng sinh."

    Nếu tỳ kheo ước nguyện:

    "Mong ta chứng lậu tận,

    Ðạt tâm, tuệ giải thoát.

    Ngay trong đời hiện tại."

    Hãy viên mãn Giới luật,

    Thích sống nơi nhàn tịnh

    Và siêng tu thiền định,

    Ðể thành tựu tuệ quán.

    Bài 7. Ví dụ tấm vải kinh/ Vatthūpama Sutta/ The simile of the cloth

    1. Như vải dơ đem nhuộm

    Sẽ có màu không đẹp

    Cũng vậy cõi ác dữ

    Chờ đợi tâm cấu uế.

    Như vải sạch đem nhuộm

    Sẽ có màu thuần tịnh,

    Cũng vậy cõi tốt lành

    Chờ đợi tâm hiền lương.

    2. Mười sáu cấu uế tâm

    Cần biết để tẩy trừ:

    Tà tham và giận dữ

    Phẫn uất và hiềm hận,

    Hư ngụy và não hại,

    Tật đố và xan tham

    Man trá và khi cuống,

    Ngoan cố và cấp tháo

    Ngã mạn và thượng mạn

    Kiêu căng và phóng dật.
    Bài 8. Ðoạn giảm kinh/ Sallekha Sutta/ Effacement.

    1. Chẳng phải tu khổ hạnh

    Mà gọi là đoạn giảm,

    Chẳng phải chứng bốn thiền

    Mà gọi là đoạn giảm,

    Chẳng phải chứng bốn Không

    Mà gọi là đoạn giảm.

    Bốn thiền trong pháp Phật

    Gọi là "hiện tại lạc".

    Còn bốn định vô sắc

    Gọi là "tịch tịnh trú".

    Nghĩa của sự đoạn giảm

    Trong giáo pháp Như lai

    Là trừ tâm uế nhiễm

    Ðể đoạn ác, giảm ngu.

    2. Ðoạn giảm được thực hiện

    Khi bỏ mười bất thiện

    Của thân, lời và ý;

    Từ bỏ tám tà đạo

    Tà trí, tà giải thoát;

    Bỏ hôn trầm, trạo cử

    Từ bỏ nghi, bất tín,

    Vô tàm và vô quý,

    Nghe ít và biếng nhác,

    Thất niệm và đần độn,

    Phẫn nộ và oán hận,

    Hư ngụy và não hại,

    Tật đố và xan tham,

    Man trá và khi cuống,

    Ngoan cố và cấp tháo,

    Mạn, quá mạn, khó nói,

    Ác hữu và phóng dật,

    Nhiễm trước thói thế tục

    Cố chấp ý kiến mình

    Và tính khó hành xả.

    3. Người nào tâm hết sạch

    Tất cả ô nhiễm này

    Dù có ăn vị ngon

    Cũng không thành chướng ngại.

    Tâm biến mãn mười phương

    Với từ, bi, hỷ, xả,

    Thoát khỏi các lậu hoặc,

    Sanh tận, phạm hạnh thành.

    4. Ấy gọi là tắm rửa

    Bằng gột rửa nội tâm.

    Kẻ ngu tưởng tắm sông

    Tẩy trừ được tội lỗi,

    Nhưng sông nào rửa được

    Những nghiệp ác đã làm?

    Ðừng mê tín dị đoan

    Ðể tha hồ tạo ác.

    5. Với người sống thanh tịnh,

    Không tạo mười bất thiện,

    Không cần sông tẩy tội,

    Ngày nào cũng tốt lành.

  3. Ôn bài KINH TRUNG BỘ TOÁT YẾU

    Bài 1. Pháp môn căn bản kinh/ Mūlapariyāya sutta/ The root of all things.

    Gốc rễ của đau khổ

    Là hỷ tham các pháp

    Vật chất và tinh thần

    Pháp phàm và pháp thánh:

    Bốn đại và ba cõi

    Cùng "niết bàn hiện tại".

    Sở dĩ có hỷ tham

    Vì tưởng tri bốn đại

    Cùng tất cả pháp khác

    Là "tôi" và "của tôi".

    Nhờ liễu tri các pháp

    Không "tôi", không "của tôi"

    Như lai không dục hỷ

    Bất cứ một pháp nào.

    Phăng tận nguồn khổ đau:

    Ái thủ đưa đến Hữu

    Từ Hữu, có Sinh, Già

    Bệnh, Chết và Sầu ưu.

    Do liễu tri như vậy

    Từ bỏ mọi Ái dục

    Tận trừ tham, mạn, kiến

    Ðạt vô thượng an ổn.

    Bài 2. Tất cả lậu hoặc kinh/ Sabbāsava Sutta/ All the taints

    Muốn tận trừ nhiễm ô

    Phải biết rõ thấy rõ:

    Biết tác ý như lý

    Thấy gì "không như lý".

    "Như lý" là cách nghĩ

    Khiến ô nhiễm không sinh

    Lại có thể diệt trừ

    Nhiễm ô đã sinh khởi.

    Có bảy cách trừ mê:

    Tri kiến và phòng hộ

    Thọ dụng và kham nhẫn

    Tránh né và trừ diệt

    Giác chi là thứ bảy.

    Ðoạn trừ bằng tri kiến

    Là bỏ mọi tư duy

    Liên hệ đến bản ngã

    Và như lý tác ý

    Về Khổ, Tập, Diệt, Đạo

    Diệt trừ ba kiết sử

    Giới thủ, thân kiến, nghi

    Đoạn trừ nhờ phòng hộ

    Là gìn giữ sáu căn

    Tức giữ gìn cửa "ý"

    Khi tiếp xúc sáu trần.

    Ðoạn trừ bằng thọ dụng

    Là biết đủ không tham

    Bốn vật dụng cần dùng

    Cốt vượt qua biển khổ.

    Ðoạn trừ bằng kham nhẫn:

    Những thống khổ khốc liệt

    Do người, vật gây nên

    Vui nhận không than oán.

    Ðoạn trừ nhờ tránh né

    Tránh mạo hiểm du hành

    Tránh giao du bất đáng

    Thì phiền não không sinh.

    Ðoạn trừ bằng trừ diệt

    Những ý xấu khởi lên

    Liên hệ dục, sân, hại

    Tỳ kheo phải dứt liền.

    Tu tập bảy giác chi

    Hướng ly tham, từ bỏ

    Ðoạn trừ các ô nhiễm

    Là diệt tận khổ đau.
    Bài 3. Thừa tự pháp kinh/ Dhammadāyāda Sutta/ Heir in the dhamma

    1. Ðệ tử thừa kế Pháp

    Hơn thừa tự vật chất

    Nếu chỉ thừa hưởng vật,

    Làm mang tiếng cả thầy.

    2. Thừa tự Pháp nghĩa là

    Những gì Phật dạy bỏ

    Ðệ tử hãy từ bỏ,

    Tức là mười sáu pháp:

    3. Tham lam và giận dữ

    Phẫn nộ và hiềm hận

    Giả dối và não hại

    Tật đố và xan lẫn

    Man trá và phản bội

    Ngoan mê và bồng bột

    Ngã mạn và tăng thượng

    Phóng dật và tự kiêu.

    4. Từ bỏ mười sáu pháp

    Ðào luyện tám thánh đạo

    Xứng kẻ thừa tự Pháp

    Hưởng Niết bàn an vui.

    Bài 4. Sợ hãi và khiếp đảm kinh/ Bhayabherava Sutta/ Fear and dread

    1. Muốn đắc các thiền chứng

    Và đoạn tận vô minh

    Cần núi rừng nương ở

    Với mười sáu điều kiện:

    Thân, khẩu, ý, thanh tịnh

    Cách sinh hoạt thanh tịnh,

    Không tham, sân, ít ngủ,

    Không trạo cử, hoài nghi

    Không khen mình chê người,

    Không sợ hãi, hám lợi,

    Không lười biếng, thất niệm,

    Không tán loạn, ngu đần.

    2. Phật chân chính quán sát

    Bản thân được như trên

    Nên Ngài không sợ hãi

    Khi độc cư núi rừng.

    Nhờ tinh tấn hành thiền

    Ngài chứng được ba minh:

    Canh một chứng túc mạng

    Nhớ hết các đời trước

    Ðại cương và chi tiết.

    Canh hai chứng thiên nhãn

    Sống chết và nghiệp báo

    Của các hạng chúng sinh

    Phật đều thấy tận tường.

    Canh ba chứng lậu tận

    Liễu tri cả bốn đế

    Như tối diệt, sáng sinh.

    Sau khi Ngài đắc đạo

    Vì thương tưởng hậu lai

    Vì hiện tại lạc trú

    Phật vẫn ở núi rừng.

    Bài 5. Không uế nhiễm kinh/ Anangana Sutta/ Without blemishes.

    A. Bốn hạng người

    1. Ðời có bốn hạng người:

    Có lỗi mà tự tri,

    Có lỗi, không tự tri

    Không lỗi cũng gồm hai:

    Tự biết, không tự biết.

    2. Hạng "có biết" là hơn:

    Như cái bát dơ dáy

    Chủ biết mà lau chùi

    Thì sẽ thành bát sạch.

    Cũng thế, người có lỗi

    Tự biết, lo sửa đổi

    Sẽ thành người trong sạch

    Chết mang theo nghiệp lành.

    3. Có lỗi không tự biết

    Như bát dơ càng dơ

    Vì lâu ngày không rửa;

    Người xấu không tự biết

    Chết mang theo xấu xa.

    4. Người tốt không tự biết,

    Lại giao du bạn xấu,

    Ðam mê theo thanh sắc,

    Lâu ngày thành kẻ hư.

    Như cái bát trong sáng

    Mà đem liệng đống rác,

    Hoặc chứa toàn thứ dơ,

    Ði đời cái bát sạch.

    5. Người tự biết không lỗi,

    Lo tu quán bất tịnh,

    Không rơi vào tham, sân,

    Chết với tâm vô nhiễm.

    Như cái bát trong sáng,

    Chủ lại siêng lau chùi,

    Không để bám bụi bặm,

    Càng ngày càng sáng trong.

    B. Cấu uế của tâm:

    6. Các ác bất thiện pháp,

    Và cảnh giới của dục,

    Ấy gọi là đồng nghĩa,

    Với cấu uế của tâm.

    7. Thầm mong đợi một đường,

    Việc xảy ra một nẻo,

    Nên phẫn nộ bất mãn,

    Ðây gọi là cấu uế.

    8. Khi lỡ phạm giới tội,

    Cầu mong đừng ai biết,

    Người biết, bèn nổi sân,

    Ðây gọi là cấu uế.

    9. "Mong họ quở trách ta,

    Chỗ kín đáo một chút,

    Chớ đừng giữa công khai",

    Sự xảy ra ngược lại,

    Bị quở trách giữa tăng,

    Ðương sự bèn nổi sân,

    Ðây gọi là cấu uế.

    10. "Ước chi người đồng đẳng,

    Quở trách tội lỗi mình",

    Thực tế không được vậy,

    Bị người dưới chơi leo,

    Hậm hực, lòng bất mãn,

    Ðây gọi là cấu uế.

    11. Tại giảng đường, học Pháp,

    Thầm mong thầy gọi mình,

    Thầy lại gọi người khác,

    Lòng bất mãn không vui,

    Ðây gọi là cấu uế.

    12. "Mong ta được dẫn đầu,

    Khi vào làng khất thực,"

    Hóa ra người dẫn đầu

    Lại là tỳ kheo khác,

    Mình bất mãn không vui,

    Ðây gọi là cấu uế.

    13. "Mong tại nơi thọ thực,

    Ta ngồi chỗ tốt nhất,

    Ðược thức uống tốt nhất,

    Và thực phẩm hảo hạng."

    Một tỳ kheo khác được,

    Những gì ta thầm mong,

    Ta phẫn nộ, bất mãn,

    Ðây gọi là cấu uế.

    14. "Mong sau khi ăn xong,

    Ta thuyết tùy hỷ pháp."

    Nhưng sự tình xảy ra:

    Là tỳ kheo khác thuyết.

    Ta phẫn nộ, bất mãn,

    Ðây gọi là cấu uế.

    15. Khi bốn chúng tụ tập,

    Tại một ngôi tịnh xá,

    Tỳ kheo ấy thầm mong,

    Mình được mời giảng pháp,

    Nhưng sự tình xảy ra:

    Một tỳ kheo khác giảng.

    Ta phẫn nộ, bất mãn,

    Ðây gọi là cấu uế.

    16. "Mong ta được bốn chúng

    Lễ bái và cúng dường."

    Nhưng một tỳ kheo khác

    Ðã được địa vị ấy.

    Ta phẫn nộ, bất mãn,

    Ðây gọi là cấu uế.

    17. "Mong ta sẽ có được

    Những vật dụng tối thắng

    Về tứ sự cúng dường."

    Nhưng người được, ta không,

    Ta phẫn nộ, bất mãn,

    Ðây gọi là cấu uế.

    18. Nơi vị tỳ kheo nào

    Chưa đoạn trừ cấu uế,

    Dù có tu khổ hạnh,

    Cũng không đáng tôn sùng.

    Nơi vị tỳ kheo nào

    Ðã đoạn trừ cấu uế,

    Dù không tu khổ hạnh,

    Cũng đáng được tán dương.

Comments

Your email address will not be published. Required fields are marked *